10 September 2012

Hồ Ba Bể




Nghe nói về Hồ Ba Bể đã lâu mà chưa một lần tới. Khởi hành từ Hà Nội từ sáng sớm mà 4h chiều chúng tôi mới tới nơi. Đường đi vào hồ Ba Bể còn gập ghềnh gian nan lắm, nhất là đoạn từ thị xã Bắc Cạn vào hồ. Xếp đồ đạc xuống thuyền rồi chúng tôi làm ngay một chuyến du ngoạn vòng quanh hồ. Tuy trời tối sầm báo hiệu một cơn mưa, chúng tôi vẫn lên đường vì thấy phong cảnh hồ hấp dẫn quá. Một chuyến du thuyền trong mưa cũng khá lãng mạn. Đôi lúc trời hửng nắng, và cầu vồng hiện ra lấp lánh, thậm chí cả cầu vồng đôi đẹp rực rỡ. Đến thác Đầu đẳng thì trời mưa to, chúng tôi đành quay về với ý định sẽ phải dành cả buổi sáng mai để du ngoạn thêm một vòng nữa.


Hồ rộng mênh mông như biển với diện tích mặt nước hơn 650 ha, với chiều dài gần 8 km, có thắt nút ở giữa. Hồ được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi có nhiều hang động và suối ngầm. Hồ sâu trung bình 20-25 m, lúc cạn nhất cũng còn 5-10 m, nước xanh trong như ngọc. 


Cầu vồng đôi trong mưa




Bến thuyền và nhà nghỉ ven hồ

Nhà nghỉ  khá đơn giản giá mềm 150K 

Nhà nghỉ nằm ngay ven bờ hồ với góc nhìn tuyệt đẹp thế này
Buổi sáng tĩnh lặng bên hồ với chiếc thuyền vỏ trấu trong truyền thuyết hồ Ba Bể.


Sáng hôm sau chuyến đi vòng quanh hồ bắt đầu từ tinh mơ với ý định ngắm cảnh bình minh trên hồ. Hồ tĩnh lặng soi bóng núi phủ mây và rừng cây xanh ngắt đẹp như một bức tranh.





Chiếc thuyền vỏ trấu trong truyền thuyết hồ Ba Bể được người dân sử dụng khá nhiều trong hồ.
 

Có mấy điểm đến trong chuyến hành trình quanh hồ bao gồm Động Puông, thác Đầu đẳng, ao Tiên và  Đền An Mã. Các điểm đến này đều tuyệt đẹp, kể cả những con đường nhỏ từ hồ dẫn đến điểm du lịch.
 
Chuẩn bị vào động Puông
Góc nhìn từ trong động Puông ra cửa động

Thuyền chở du khách đi xuyên qua động



Đường đến thác Đầu đẳng đẹp mê hồn, các thợ ảnh thỏa sức chụp

Bên Thác Đầu đẳng




Ao Tiên tĩnh lặng soi bóng cây


 Đền An Mã trên núi 


 Tạm biệt hồ Ba Bể (9.9.2012)

Sự tích hồ Ba Bể (fr Net)

Vào hồi đó ở xã Nam-mẫu có mở một hội “Vô Già” cúng Phật. Mọi người nô nức đi xem. Ai nấy đều lo ăn chay niệm Phật và làm những việc từ thiện như buông cá, thả chim.v.v… để cầu phúc trong mấy ngày hội.
Hôm ấy, xuất hiện ở đám hội một bà già ăn mày. Người ta không biết mụ ta từ đâu đi lại. Bộ dạng thật là gớm ghiếc: những mảnh vải vá víu của mụ không đủ che tấm thân gầy còm và lở loét. Mùi hôi thối xông ra rất khó chịu. Đến đâu, mụ cũng thều thào mấy câu: – “Đói lắm các ông các bà ơi!”. Rồi cầm cái rá, mụ giơ ra khắp bốn phía, đầy vẻ cầu khẩn
Nhưng mãi đến chiều, người đàn bà đó vẫn chả được tý gì. Đến đâu mụ cũng bị xua đuổi. Đám trẻ tuổi nhất là các cô gái cho mụ là hủi nên trốn như trốn dịch. Hễ thấy mụ đâu là họ xô nhau chạy đi chỗ khác. Mấy bà đang lễ thì rất bực tức. Họ ngừng những tiếng “Nam mô Phật” lại và quay ra mắng sa sả vào mụ sao dám đi sát vào người. Cuối cùng bọn hương lý sai tuần phu đuổi mụ đi. Mụ không thể kiên gan trước những trận mưa roi của bọn tuần, đành phải lê mình ra khỏi đám hội.
Sau khi ra khỏi đám hội, người đàn bà ấy thất thểu bước vào xóm. Cũng như ở đám hội, vào nhà nào mụ cũng bị nghi là hủi và bị đuổi. Mấy nhà giàu có đóng chặt cửa lại và thả chó ra. May sao đến ngã ba, mụ gặp hai mẹ con bà góa vừa đi chợ về. Thấy bà lão ăn mày tội nghiệp, người mẹ đưa về nhà lấy cơm nguội cho ăn.
Khuya hôm đó hai mẹ con đang ngủ thì người đàn bà ấy lại gọi cửa. Mụ xin ngủ nhờ một đêm vì mọi chỗ, người ra đều cấm cửa không cho vào. Hai mẹ con vui lòng đón người ấy vào nhà, lấy cơm cho ăn và trải chiếu ở một cái chõng cho mụ ngả lưng. Còn mẹ con thì nằm tạm ở một chỗ khác.
Người đàn bà vừa nằm ngủ liền, tiếng mụ ngáy như sấm. Hai mẹ con nhìn ra thấy chõng sáng rực lên trong bóng tối. Đây không phải là một người ăn mày già yếu lở loét nữa mà là một con Giao Long đang cuộn mình ngủ, đầu gác lên xà nhà, đuôi thò xuống đất. Người mẹ rụng rời kinh hãi, nhưng vì chỗ ở của mình cách biệt với làng xóm, không biết kêu cứu ai, đành trùm chăn kín mít, phó mặc cho may rủi.
Nhưng đến sáng hôm sau, khi người mẹ nhìn ra chả thấy Giao Long đâu cả. Trên chõng, mụ ăn mày đã dậy và sắp sửa ra đi. Trước khi từ biệt, mụ bỗng lên tiếng:
- Chúng nó thờ Phật mà kỳ thực là buôn Phật. Chúng nó xứng đáng phải chịu trầm luân. Chỉ có mẹ con nhà ngươi là tốt bụng. Hãy cầm lấy gói tro này, nhớ rắc xung quanh chỗ ở và nội trong đêm hôm nay chớ đi đâu cả. Hoặc nếu có đi thì đưa nhau lên đỉnh núi cao mà tránh.
Người mẹ băn khoăn hỏi thêm:
- Nhưng làm thế nào để cứu mọi người được?
Người đàn bà ấy ngần ngừ hồi lâu rồi lấy từ trong áo một hạt thóc ra cắn tách đôi vỏ trấu đưa cho hai mẹ con và nói:
- Hai mảnh vỏ trấu này sẽ giúp hai mẹ con ngươi làm việc thiện.
Người mẹ toan hỏi thêm thì vụt một cái đã không thấy người đàn bà hủi đâu nữa. Hai mẹ con vội làm theo lời dặn rồi đi kể chuyện cho mấy người gần đó biết. Họ nghe nói chỉ mỉm cười cho là một chuyện bâng quơ.
Quả nhiên tối hôm đó giữa đám hội náo nhiệt, lúc thiện nam tín nữ đang tấp nập lễ bái thì bất ngờ có một dòng nước từ dưới đất phun lên chính giữa đàn tràng. Nước càng phun càng mạnh làm lở dần đất xung quanh. Người ta ngơ ngác không hiểu thế nào, tưởng là phép Phật hiển hiện nên càng vái lấy vái để. Nhưng dòng nước mỗi lúc một mạnh nuốt hết người và vật. Chỉ trong nháy mắt đã ngập bằng một cái ao. Thấy thế mọi người hoảng hốt bỏ cả lễ bái đua nhau chạy. Nhưng họ không thể chạy được nữa. Ở dưới chân họ đất nứt nẻ, rung động hất họ ngã xuống. Bỗng chốc một tiếng ầm dữ dội phát ra, đất đá, nhà cửa, người vật đều chỉm nghỉm, nước tung tóe mù trời. Một con Giao Long to lớn từ mặt nước nhô lên bay vòng quanh xã Nam-mẫu. Trong khi đó thì nền nhà, chuồng lợn, chuồng gà của mẹ con người đàn bà từ thiện kia mỗi lúc một nâng cao hơn mực nước.
Đau xót trước cảnh nước lụt, hai mẹ con đem hai mảnh vỏ trấu ra. Vừa đặt xuống nước, họ bỗng thấy hai mảnh vỏ biến ngay thành hai chiếc thuyền. Thế rồi, mặc gió mặc mưa, họ chèo đi mọi nơi cố sức vớt những người bị nạn.
Chỗ đất sụt ấy ngày nay là hồ Ba-bể ở Bắc cạn, còn cái nền nhà ấy là một hòn đảo nhỏ ở giữa hồ mà người địa phương gọi là Pò-già-mải, tiếng Tày là Bà góa hay đảo bà góa.